Axit ascorbic (Vitamin C)


Axit ascorbic là một vitamin quan trọng, tan trong nước, hoạt động như một đồng tố của enzyme trong việc tổng hợp L-cartinine và các catecholamine. Vì cơ thể người không thể tự tạo ra vitamin C nên việc cung cấp từ chế độ ăn là bắt buộc. Trong khoang ruột và hệ thống tuần hoàn, ascorbate còn là một chất chống oxy hóa tiềm năng, có đặc tính kháng vi khuẩn và kháng viêm, cũng như hỗ trợ hấp thu sắt.
Cơ chế tác dụng
Vai trò của axit ascorbic trong cân bằng nội môi sắt thường liên quan đến khả năng tăng cường hấp thu sắt ở ruột, và giảm stress oxy hóa. Vitamin C phản ứng với Fe3+ để tạo thành dạng sắt hấp thu trong cơ thể Fe2+, sau đó Fe2+ được vận chuyển tích cực qua màng tế bào ruột [36]. Các nghiên cứu trong phòng thí nghiệm (in vitro) sử dụng các tế bào ruột đã cho thấy sự vận chuyển sắt phụ thuộc vào ascorbate có thể diễn ra ở cả mặt đỉnh [37] và mặt đáy tế bào [38] thông qua sự điều hòa lên hoặc xuống của các kênh vận chuyển. Do vậy, sự vận chuyển được điều hòa bởi cả quá trình hấp thu qua màng tế bào và vận chuyển vào máu. Ascorbate cũng điều hòa sản xuất hepcidin and các thụ thể của EPO trong các tế bào gan được nuôi cấy [39], từ đó ảnh hưởng lớn đến nồng độ sắt trong cơ thể. Trong các tình trạng bị stress như thiếu oxy ở mô, viêm mạn tính hay thiếu dinh dưỡng, ascorbate đóng vai trò như một chất chống oxy hóa mang lại các lợi ích chuyển hóa.
Bằng chứng
Các bằng chứng khoa học cho thấy ascorbate có hiệu quả trong việc khôi phục cân bằng sắt, nhưng cũng mang lại các lợi ích về mặt chuyển hóa do có đặc tính chống oxy hóa và kháng viêm. Chỉ sử dụng 1000 mg axit ascorbic/ngày trong vòng 2 tháng thể hiện khả năng điều chỉnh rõ rệt IDA trên các đối tượng nghiên cứu [40]. Nghiên cứu này cũng cho thấy, sau khi điều trị bằng axit ascorbic, nồng độ sắt, hemoglobin và ferritin máu tăng đáng kể (Hình 6). Trong một nghiên cứu so sánh khác, sử dụng kết hợp 50 mg sắt và 500 mg ascorbate ở nữ giới khỏe mạnh bị thiếu hụt hồng cầu tạm thời sau khi hiến máu, sự hồi phục hemoglobin được cải thiện hơn [41]. Một nghiên cứu lâm sàng khác cho thấy ascorbate và sắt có hiệu quả tốt trong việc cải thiện sự bão hòa ferritin và nồng độ hepcidin ở mức liều thấp hơn (~30 mg), tuy nhiên ở phụ nữ bị thừa cân và béo phì, sự cải thiện này không rõ rệt [42]. Kết quả này có thể do sự rối loạn chuyển hóa và viêm có thể ảnh hưởng đến tác dụng chống oxy hóa của ascorbate. Liều tương tự sắt/ascorbate dùng hàng ngày ở phụ nữ trẻ làm giảm đáng kể các tác nhân sinh học gây nên stress oxy hóa và giảm tình trạng thiếu sắt không thiếu máu [43]. Một nghiên cứu sử dụng liều 60 hoặc 260 mg ascorbate, cùng với 14 mg sắt/ngày làm tăng sự bão hòa transferrin và nồng độ vitamin E trong máu, làm giảm sự oxy hóa lipid và giảm hoạt hóa tiểu cầu so với trước khi điều trị [44], sự khác biệt xuất hiện sớm hơn ở mức liều ascorbate cao hơn.


Hình 6: Các thông số máu trước và sau khi bổ sung 1000 mg axit ascorbic đường uống, thể hiện sử cải thiện IDA (*P < 0.01).

You may also like...