Canxi folinate

Canxi folinate là dạng dễ hấp thu hơn của axit folic, có thể chuyển hóa trực tiếp thành tetrahydrofolate, bỏ qua các bước chuyển hóa như axit folic (từ axit folic thành dạng folate để hấp thu).
Cơ chế tác dụng
Sau khi hấp thu, axit folic được chuyển hóa thành folate ở gan, chất này sau đó được chuyển hóa thành dạng có hoạt tính trong tế bào dưới sự xúc tác của enzyme. Trong khi đó axit folinic trực tiếp tạo thành chất trung gian có hoạt tính, bỏ qua các bước chuyển hóa, cung cấp nhiều folate hơn ở mức liều thấp hơn. Axit folinic chuyển hóa thành dạng folate có hoạt tính một cách dễ dàng hơn do không cần sự tham gia của các enzyme (Hình 4) [29]. Việc bỏ qua các bước chuyển hóa có thể giảm nguy cơ axit folic không chuyển hóa được. Axit folic không được chuyển hóa kết hợp với tăng cường dinh dưỡng trong thức ăn có thể dẫn đến tích lũy axit folic trong một số trường hợp [30]. Trong khoảng 10% người mang gen đột biến MTHFR bị giảm khả năng chuyển hóa axit folic thành folate, việc sử dụng axit folinic có thể mang lại lợi ích hơn.


Hình 4: Sơ đồ chuyển hóa folate, canxi folinate chuyển hóa trực tiếp thành 5-methyl tetrahydrofolate, dạng có hoạt tính sinh học của folate, bỏ qua các bước chuyển hóa chính.
Bằng chứng
Từ những năm 1950, axit folinic đã được sử dụng bổ sung thêm ngoài chế độ ăn theo cơ chế tương tự như axit folic. Gần đây, hiệu quả lâm sàng của axit folinic đã được chứng minh dưới dạng thuốc độc quyền leucovorin, được sử dụng như một thuốc hỗ trợ trong điều trị ung thư liên quan đến các hóa trị liệu 5-fluorouracil và methotrexate [31]. Cả hai thuốc này đều ức chế tổng hợp ADN để tiêu diệt tế bào ung thư bằng cách phong tỏa các enzyme tổng hợp pyrimidin trong
chuyển hóa folate. Do vậy, bổ sung axit folinic từ bên ngoài không ảnh hưởng đến các tế bào bình thường do bỏ qua sự phong tỏa này. Điều này đặc biệt quan trọng để bảo vệ tủy xương, ngăn ngừa cái chết hàng loạt của các tế bào hồng cầu, tiền thân tạo máu trong quá trình điều trị. Bệnh nhân đang trong quá trình điều trị thường bị giảm sản xuất hồng cầu, do đó cần tăng cường sử dụng sắt để duy trì nồng độ hemoglobin [32]. Mặc dù các hướng điều trị này yêu cầu axit folinic liều cao (10-20 mg), tuy nhiên vẫn chứng minh được hiệu quả lâm sàng trong điều hòa cân bằng sắt ở các tình trạng bệnh lý. Axit folinic cũng đã được chứng mình hiệu quả lâm sàng trong các tình trạng bệnh lý khác như thiếu máu đơn lẻ. Trước đây, axit folinic đã được sử dụng thành công để điều trị thiếu máu nguyên hồng cầu khổng lồ [33] và thiếu máu ác tính (thiếu vitamin B12) [34]. Liều 370 mcg axit folinic/ngày kết hợp với 80 mg phức sắt chelate/ngày hiệu quả hơn việc bổ sung đơn độc sắt (không kết hợp với folate) cho bệnh thiếu máu do thiếu sắt (IDA) khi mang thai [35]. Cả hai cách điều trị đều làm tăng nồng độ hemoglobin nhưng kết quả rõ rệt hơn khi bổ sung sắt kết hợp với axit folic ở những phụ nữ có nồng độ hemoglobin thấp hơn (Hình 5).


Hình 5: Sự thay đổi nồng độ hemoglobin theo thời gian ở phụ nữ mang thai bị thiếu máu do thiếu sắt. Trong khoảng tứ phân vị thấp nhất, bổ sung sắt +370 mcg folate/ngày cho thấy sự hồi phục rõ rệt hơn so với chỉ sử dụng đơn độc sắt (*P < 0.01) [35].

You may also like...