Sắt


Sắt là một nguyên tố vi lượng, có trong các khoáng chất và nguồn nước. Là một vi chất dinh dưỡng thiết yếu trong chế độ ăn, sắt được cung cấp chủ yếu từ các nguồn động vật như thịt đỏ và các nguồn từ thực vật như rau xanh và cây họ đậu, trong đó nguồn cung cấp từ thực vật dễ hấp thu hơn

Cơ chế tác dụng
Sắt là một thành phần thiết yếu, tham gia vào cấu tạo nhân hem của các protein tạo liên kết thuận nghịch với oxy và vận chuyển oxy vào máu (hemoglobin) và cơ (myoglobin). Khoảng 80% lượng sắt trong cơ thể nằm trong hemoglobin. Các trường hợp giảm lưu thông sắt trong máu thay đổi độ nhạy cảm của các thụ thể transferrin, điều này dẫn đến tăng cường nồng độ EPO, kích thích tạo hồng cầu ở tủy xương của người trưởng thành [1]. Để cân bằng nồng độ sắt trong máu, hepcidin sẽ điều hòa sắt dự trữ ở gan vào máu. Trong giai đoạn phát triển của trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, nhu cầu sắt tăng cao để hỗ trợ cho sự tăng trưởng và phát triển của hệ thống tim mạch và tạo máu, từ đó hỗ trợ cho sự phát triển của não và các cơ quan khác. Sắt cũng có chức năng như một đồng tố với nhiều enzyme trong ty thể kể cả các phức hợp cytochrome để điều hòa sản sinh năng lượng và cân bằng oxy hóa khử. Sắt hóa trị 2 có sinh khả dụng cao hơn, có thể phản ứng trực tiếp với các ion hydroxyl và các gốc oxy tự do khác tạo thành sắt hóa trị 3. Trong dạng phức chelate, (Hình 1), sinh khả dụng của sắt hóa trị 2 được tăng cường [2] (xem hình dưới).

Hình 1: Cấu trúc hóa học của sắt bisglycinate, một dạng phức chelate của sắt, trong đó sắt hóa trị 2 (Fe2+) được liên kết với 2 đầu của hai phân tử glycin. Ở dạng này, sắt có sinh khả dụng cao hơn gấp 4 lần [2].
Bằng chứng
Sự thiếu hụt dinh dưỡng là nguyên nhân gây thiếu sắt phổ biến nhất trên toàn thế giới. Đây là cơ sở chủ yếu để bổ sung chế độ ăn cho từng trường hợp cụ thể. Thiếu sắt đi kèm với nồng độ hemoglobin dưới mức sinh lý dẫn đến thiếu máu do thiếu sắt. Nguyên nhân là do sự cung cấp sắt đến tủy xương giảm, dẫn đến thiếu nguyên liệu cho quá trình tạo hồng cầu ngay cả khi dự trữ sắt trong cơ thể chưa cạn kiệt hoàn toàn. Phổ biến hơn ở các nước đang phát triển, sự thiếu hụt sắt xuất hiện ngay cả khi chế độ dinh dưỡng đầy đủ(theo WHO). Các nhóm đối tượng nguy cơ thiếu sắt bao gồm phụ nữ mang thai; phụ nữ không mang thai nhưng có chế độ dinh dưỡng chưa đạt mức tối ưu trong chu kỳ kinh nguyệt, và người trưởng thành bị các bệnh viêm mạn tính hoặc nhiễm trùng. Bổ sung sắt trong chế độ ăn vẫn là sự can thiệp lâm sàng hiệu quả nhất đối với các chỉ định về huyết học trong các bệnh tim mạch. Các nhóm nguy cơ đặc biệt bao gồm phụ nữ có thai hoặc bị thống kinh, người bị ung thư ruột hoặc có các vấn đề về dạ dày, ruột, người bị suy tim mạn tính. Một phân tích tổng hợp gần đây cho thấy việc bổ sung sắt bằng các viên bổ sung mang lại hiệu quả lâm sàng trong việc phòng ngừa IDA cho phụ nữ đang trong chu kì kinh nguyệt [3]. Tác dụng tương tự cũng quan sát được ở trên phụ nữ có thai kèm theo chậm phát triển bào thai và bệnh tật ở trẻ sơ sinh [4]. Các lợi ích khác cũng được tìm thấy trên bệnh suy tim mạn tính, khi việc bổ sung sắt còn giúp giảm thời gian nằm viện [5]. Trong hầu hết các nghiên cứu lâm sàng được đánh giá, liều sử dụng tính theo sắt nguyên tố dao động trong khoảng 10-300 mg/ngày. Moretti và cộng sự [6] đã chứng minh mối liên quan tích cực giữa việc hấp thu sắt toàn phần và sắt sulfate liều lượng từ 40-240 mg. Tuy nhiên, liều dưới 40-80 mg có tác dụng ngăn ngừa dư thừa hepcidin cấp tính – tình trạng dẫn đến ức chế tạm thời sự hấp thu sắt vào ruột.
Sắt bisglycinate
Mặc dù được sử dụng không phổ biến bằng sắt sulfate, dạng phức chelate của sắt với amino axit được chứng minh có sự hấp thu và dung nạp tốt hơn khi thí nghiệm trên động vật (in vivo) [7], và có thể tan được tại nhiều mức pH khác nhau [8]. Các nghiên cứu lâm sàng ở phụ nữ mang thai cũng đưa ra các kết quả huyết học tương tự với liều bổ sung thấp hơn so với sắt sulfate [9-11]. Trong một nghiên cứu sơ bộ của Szarfarc và cộng sự [9], liều 15 mg/ngày chế phẩm sắt bisglycinate độc quyền (Ferrochel®, muối được sử dụng trong IronUp) mang lại tác dụng tương tự như liều 40 mg/ngày sắt sulfate khi so sánh các thông số huyết học ở người mẹ trong khi tần suất thiếu sắt ít hơn rất nhiều (Hình 2). Ferrochel® cũng được chứng minh lâm sàng về tác dụng ngăn ngừa thiếu máu do thiếu sắt ở trẻ 1 tuổi [12]. Trong một nghiên cứu so sánh, sử dụng sắt sulfate ở mức liều 5 mg/kg (tương đương với mức liều 30-48 mg/ngày) mang lại hiệu quả tương đương với sắt bisglycinate khi sử dụng ở mức liều tương tự trong việc cải thiện nồng độ hemoglobin, muối bisglycinate ưu việt hơn trong việc cải thiện nồng độ ferritin máu và sinh khả dụng nói chung (91 vs 27%). Trong một nghiên cứu trước đó của cùng tác giả, hàm lượng 30 mg sắt bisglycinate cho tác dụng tương tự như 120 mg sắt sulfate trong phòng ngừa IDA ở thanh thiếu niên [13]. Trong một thử nghiệm lâm sàng gần đây tiến hành trên trẻ em đang trong độ tuổi đi học bị thiếu sắt ở Mexico, bổ sung 30 mg sắt sulfate hoặc sắt bisglycinate có tác dụng tương đương nhau, tuy nhiên sắt bisglycinate cải thiện nồng độ ferritin tốt hơn sau 6 tháng điều trị tiếp theo [14]. Trong một thử nghiệm lâm sàng khác gần đây được tiến hành bởi Milman và cộng sự [10], sử dụng liều 25 mg/ngày sắt bisglycinate độc quyền (Aminojern®) cho các thông số huyết học tương tự như sắt sulfate ở người mẹ, không có kết quả thống kê trên cân nặng trẻ sơ sinh. Các nghiên cứu này cũng đưa ra một kết quả quan trọng, đó là các tác dụng phụ trên đường tiêu hóa giảm đáng kể khi sử dụng sắt bisglycinate (Hình 3).

Hình 2: Bổ sung 15 mg/ngày sắt bisglycinate (Ferrochel®) làm giảm đáng kể tần suất thiếu sắt ở phụ nữ mang thai, so với sắt sulfate (liều 40 mg/ngày) *( P < 0.05) [9].

Hình 3: Tần suất xuất hiện các tác dụng phụ trên đường tiêu hóa bao gồm buồn nôn, đau bụng, phân đen giảm đáng kể ở phụ nữ dùng 25 mg/ngày Ferrochel® so với sử dụng 50 mg/ngày sắt sulfate (**P < 0.001) [10].

Các nghiên cứu đã chứng minh phức chelate sắt bisglycinate mang lại hiệu quả lâm sàng ở mức liều 15-50 mg và an toàn cho cả người lớn và trẻ em. Gần như không có độc tính cấp ở mức liều này, do đó Ferrochel® đã được FDA đánh giá là an toàn khi sử dụng (GRAS) [15]. Một cơ quan có thẩm quyền của châu Âu cũng đã đánh giá việc bổ sung sắt bisglycnate và sự đáp ứng liều trong một loạt các nghiên cứu trên người và động vật [16]. Dựa trên các tiêu chuẩn sinh học, cơ quan này đã đưa ra kết luận sắt bisglycinate an toàn khi sử dụng.

You may also like...