Thành phần cấu tạo

Thành phần công thức IronUp

Sắt

Sắt là một nguyên tố vi lượng, có trong các khoáng chất và nguồn nước. Là một vi chất dinh dưỡng thiết yếu trong chế độ ăn, sắt được cung cấp chủ yếu từ các nguồn động vật như thịt đỏ và các nguồn từ thực vật như rau xanh và cây họ đậu, trong đó nguồn cung cấp từ thực vật dễ hấp thu hơn

Cơ chế tác dụng
Sắt là một thành phần thiết yếu, tham gia vào cấu tạo nhân hem của các protein tạo liên kết thuận nghịch với oxy và vận chuyển oxy vào máu (hemoglobin) và cơ (myoglobin). Khoảng 80% lượng sắt trong cơ thể nằm trong hemoglobin. Các trường hợp giảm lưu thông sắt trong máu thay đổi độ nhạy cảm của các thụ thể transferrin, điều này dẫn đến tăng cường nồng độ EPO, kích thích tạo hồng cầu ở tủy xương của người trưởng thành [1]. Để cân bằng nồng độ sắt trong máu, hepcidin sẽ điều hòa sắt dự trữ ở gan vào máu. Trong giai đoạn phát triển của trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, nhu cầu sắt tăng cao để hỗ trợ cho sự tăng trưởng và phát triển của hệ thống tim mạch và tạo máu, từ đó hỗ trợ cho sự phát triển của não và các cơ quan khác. Sắt cũng có chức năng như một đồng tố với nhiều enzyme trong ty thể kể cả các phức hợp cytochrome để điều hòa sản sinh năng lượng và cân bằng oxy hóa khử. Sắt hóa trị 2 có sinh khả dụng cao hơn, có thể phản ứng trực tiếp với các ion hydroxyl và các gốc oxy tự do khác tạo thành sắt hóa trị 3. Trong dạng phức chelate, (Hình 1), sinh khả dụng của sắt hóa trị 2 được tăng cường [2] (xem hình dưới).

Hình 1: Cấu trúc hóa học của sắt bisglycinate, một dạng phức chelate của sắt, trong đó sắt hóa trị 2 (Fe2+) được liên kết với 2 đầu của hai phân tử glycin. Ở dạng này, sắt có sinh khả dụng cao hơn gấp 4 lần [2].
Bằng chứng
Sự thiếu hụt dinh dưỡng là nguyên nhân gây thiếu sắt phổ biến nhất trên toàn thế giới. Đây là cơ sở chủ yếu để bổ sung chế độ ăn cho từng trường hợp cụ thể. Thiếu sắt đi kèm với nồng độ hemoglobin dưới mức sinh lý dẫn đến thiếu máu do thiếu sắt. Nguyên nhân là do sự cung cấp sắt đến tủy xương giảm, dẫn đến thiếu nguyên liệu cho quá trình tạo hồng cầu ngay cả khi dự trữ sắt trong cơ thể chưa cạn kiệt hoàn toàn. Phổ biến hơn ở các nước đang phát triển, sự thiếu hụt sắt xuất hiện ngay cả khi chế độ dinh dưỡng đầy đủ(theo WHO). Các nhóm đối tượng nguy cơ thiếu sắt bao gồm phụ nữ mang thai; phụ nữ không mang thai nhưng có chế độ dinh dưỡng chưa đạt mức tối ưu trong chu kỳ kinh nguyệt, và người trưởng thành bị các bệnh viêm mạn tính hoặc nhiễm trùng. Bổ sung sắt trong chế độ ăn vẫn là sự can thiệp lâm sàng hiệu quả nhất đối với các chỉ định về huyết học trong các bệnh tim mạch. Các nhóm nguy cơ đặc biệt bao gồm phụ nữ có thai hoặc bị thống kinh, người bị ung thư ruột hoặc có các vấn đề về dạ dày, ruột, người bị suy tim mạn tính. Một phân tích tổng hợp gần đây cho thấy việc bổ sung sắt bằng các viên bổ sung mang lại hiệu quả lâm sàng trong việc phòng ngừa IDA cho phụ nữ đang trong chu kì kinh nguyệt [3]. Tác dụng tương tự cũng quan sát được ở trên phụ nữ có thai kèm theo chậm phát triển bào thai và bệnh tật ở trẻ sơ sinh [4]. Các lợi ích khác cũng được tìm thấy trên bệnh suy tim mạn tính, khi việc bổ sung sắt còn giúp giảm thời gian nằm viện [5]. Trong hầu hết các nghiên cứu lâm sàng được đánh giá, liều sử dụng tính theo sắt nguyên tố dao động trong khoảng 10-300 mg/ngày. Moretti và cộng sự [6] đã chứng minh mối liên quan tích cực giữa việc hấp thu sắt toàn phần và sắt sulfate liều lượng từ 40-240 mg. Tuy nhiên, liều dưới 40-80 mg có tác dụng ngăn ngừa dư thừa hepcidin cấp tính – tình trạng dẫn đến ức chế tạm thời sự hấp thu sắt vào ruột.
Sắt bisglycinate
Mặc dù được sử dụng không phổ biến bằng sắt sulfate, dạng phức chelate của sắt với amino axit được chứng minh có sự hấp thu và dung nạp tốt hơn khi thí nghiệm trên động vật (in vivo) [7], và có thể tan được tại nhiều mức pH khác nhau [8]. Các nghiên cứu lâm sàng ở phụ nữ mang thai cũng đưa ra các kết quả huyết học tương tự với liều bổ sung thấp hơn so với sắt sulfate [9-11]. Trong một nghiên cứu sơ bộ của Szarfarc và cộng sự [9], liều 15 mg/ngày chế phẩm sắt bisglycinate độc quyền (Ferrochel®, muối được sử dụng trong IronUp) mang lại tác dụng tương tự như liều 40 mg/ngày sắt sulfate khi so sánh các thông số huyết học ở người mẹ trong khi tần suất thiếu sắt ít hơn rất nhiều (Hình 2). Ferrochel® cũng được chứng minh lâm sàng về tác dụng ngăn ngừa thiếu máu do thiếu sắt ở trẻ 1 tuổi [12]. Trong một nghiên cứu so sánh, sử dụng sắt sulfate ở mức liều 5 mg/kg (tương đương với mức liều 30-48 mg/ngày) mang lại hiệu quả tương đương với sắt bisglycinate khi sử dụng ở mức liều tương tự trong việc cải thiện nồng độ hemoglobin, muối bisglycinate ưu việt hơn trong việc cải thiện nồng độ ferritin máu và sinh khả dụng nói chung (91 vs 27%). Trong một nghiên cứu trước đó của cùng tác giả, hàm lượng 30 mg sắt bisglycinate cho tác dụng tương tự như 120 mg sắt sulfate trong phòng ngừa IDA ở thanh thiếu niên [13]. Trong một thử nghiệm lâm sàng gần đây tiến hành trên trẻ em đang trong độ tuổi đi học bị thiếu sắt ở Mexico, bổ sung 30 mg sắt sulfate hoặc sắt bisglycinate có tác dụng tương đương nhau, tuy nhiên sắt bisglycinate cải thiện nồng độ ferritin tốt hơn sau 6 tháng điều trị tiếp theo [14]. Trong một thử nghiệm lâm sàng khác gần đây được tiến hành bởi Milman và cộng sự [10], sử dụng liều 25 mg/ngày sắt bisglycinate độc quyền (Aminojern®) cho các thông số huyết học tương tự như sắt sulfate ở người mẹ, không có kết quả thống kê trên cân nặng trẻ sơ sinh. Các nghiên cứu này cũng đưa ra một kết quả quan trọng, đó là các tác dụng phụ trên đường tiêu hóa giảm đáng kể khi sử dụng sắt bisglycinate (Hình 3).

Hình 2: Bổ sung 15 mg/ngày sắt bisglycinate (Ferrochel®) làm giảm đáng kể tần suất thiếu sắt ở phụ nữ mang thai, so với sắt sulfate (liều 40 mg/ngày) *( P < 0.05) [9].

Hình 3: Tần suất xuất hiện các tác dụng phụ trên đường tiêu hóa bao gồm buồn nôn, đau bụng, phân đen giảm đáng kể ở phụ nữ dùng 25 mg/ngày Ferrochel® so với sử dụng 50 mg/ngày sắt sulfate (**P < 0.001) [10].

Các nghiên cứu đã chứng minh phức chelate sắt bisglycinate mang lại hiệu quả lâm sàng ở mức liều 15-50 mg và an toàn cho cả người lớn và trẻ em. Gần như không có độc tính cấp ở mức liều này, do đó Ferrochel® đã được FDA đánh giá là an toàn khi sử dụng (GRAS) [15]. Một cơ quan có thẩm quyền của châu Âu cũng đã đánh giá việc bổ sung sắt bisglycnate và sự đáp ứng liều trong một loạt các nghiên cứu trên người và động vật [16]. Dựa trên các tiêu chuẩn sinh học, cơ quan này đã đưa ra kết luận sắt bisglycinate an toàn khi sử dụng.

Axit folic

Axit folic là dạng folate tồn tại trong chế độ ăn và là một vitamin nhóm B tan trong nước thiết yếu, với các vai trò chuyển hóa trong việc biến đổi carbon để tổng hợp và methyl hóa ADN thông qua folate và chu trình methyl.
Cơ chế tác dụng
Ở cấp độ mô, folate cần thiết cho sự phân chia tế bào, các mô có nhu cầu folate cao để tăng trưởng. Đóng vai trò trung gian trong chuyển hóa C-1, axit folic tham gia vào việc biến đổi nhóm methyl giữa methionine và homocystein để tổng hợp và methyl hóa ADN. Đây là một cơ chế biểu sinh quan trọng để các quá trình tái thiết lập sự cân bằng để điều hòa sự phân hóa. Sự phát triển của thai nhi trong giai đoạn sớm (đặc biệt là 3 tháng đầu của thai kỳ) phụ thuộc vào việc cung cấp axit folic liên tục ở người mẹ để phát triển các cơ quan chính, nổi bật là hệ thống thần kinh trung ương và hệ thống tim mạch. Liên quan đến nồng độ sắt trong cơ thể, vai trò chính của axit folic là duy trì quá trình tạo máu. Quá trình này bắt đầu trong giai đoạn sớm của thai nhi và tiếp diễn cho đến tuổi trưởng thành, sử dụng cơ chế phân hóa. Người trưởng thành có nhu cầu sản xuất hồng cầu hàng ngày rất lớn, ước tính có gần 2 triệu tế bào hồng cầu được sản xuất trong một giây bởi các tế bào hồng cầu ở tủy xương. Do vậy, cần cung cấp thường xuyên sắt, folate và các vitamin B để duy trì nồng độ hemoglobin dồi dào, từ đó đáp ứng nhu cầu hồng cầu cho cơ thể [17].
Bằng chứng
Trước đây axit folic được bổ sung kết hợp với sắt để cải thiện sự tổng hợp hemoglobin và phòng ngừa thiếu sắt. Đặc biệt ở phụ nữ có thai, nhu cầu folate tăng gấp 3 lần bình thường nên thiếu máu ở phụ nữ mang thai thường đi kèm với thiếu folate [18]. Các nghiên cứu lâm sàng ban đầu vẫn có sự tranh luận về việc bổ sung đều đặn kết hợp cả sắt và axit folic [19]. Ngày nay, WHO tiếp tục ủng hộ việc sử dụng folate kết hợp cùng sắt cho phụ nữ có thai, để giảm nguy cơ thiếu máu ở cả người mẹ và trẻ sơ sinh, giảm nguy cơ trẻ sơ sinh bị thiếu cân và các vấn đề khác khi mang thai [20], đặc biệt ở khu vực các nước đang phát triển thường tiêu thụ ít protein. Axit folic cũng thể hiện tác dụng độc lập trong việc phòng ngừa nguy cơ dị tật ở trẻ sau khi sinh. Kết quả các nghiên cứu lâm sàng cho thấy lợi ích của việc bổ sung sắt, folate và/hoặc các vi chất dinh dưỡng (MMN) trước hoặc trong suốt thời gian mang thai trong việc phòng ngừa các vấn đề khi sinh nở [21]. Tuy nhiên, ngay cả khi chỉ bổ sung 400 µg folate riêng lẻ/ngày, thậm chí sử dụng trước khi thụ thai đã là đủ để giảm đáng kể nguy cơ dị tật ống thần kinh (NTDs) [22]. Kết quả này dựa trên các bằng chứng trước đó về mối liên quan giữa nồng độ folate trong máu người mẹ và tỉ lệ dị tật ống thần kinh [23]. Do vậy, WHO khuyến cáo nên bổ sung folate cho phụ nữ mang thai sẽ mang lại hiệu quả lâm sàng cao hơn so với việc chỉ bổ sung thông qua chế độ ăn hàng ngày [24]. Trong quản lý bệnh tim mạch (CVD), axit folic thể hiện lợi ích lâmsàng thông qua việc làm giảm nồng độ cystein máu. Trong một số thử nghiệm lâm sàng sớm, sử dụng liều cao axit folic (5-10 mg/ngày) trong vòng 1 năm có tác dụng làm giảm nồng độ homocystein máu và cải thiện tính đàn hồi của động mạch so với nhóm chứng [25, 26]. Các thử nghiệm gần đây đã sử dụng folate ở mức liều thấp hơn (1-2 mg/ngày), nhưng được kết hợp với MMN như vitamin B6 và B12 [27]. Nhìn chung, axit folic và các đồng tố có liên quan đến chuyển hóa C-1 có khả năng giảm thiểu tổn thương do oxy hóa ở mạch máu. Axit folic cũng liên quan đến nồng độ các lipid trong máu – một yếu tố nguy cơ độc lập đối với bệnh tim mạch. Bổ sung 400 µg axit folic ở bệnh nhân có các yếu tố nguy cơ xơ vữa động mạch cho thấy nồng độ cholesterol, LDL và ApoA1 giảm so với giả dược [28].

Canxi folinate
Canxi folinate là dạng dễ hấp thu hơn của axit folic, có thể chuyển hóa trực tiếp thành tetrahydrofolate, bỏ qua các bước chuyển hóa như axit folic (từ axit folic thành dạng folate để hấp thu).
Cơ chế tác dụng
Sau khi hấp thu, axit folic được chuyển hóa thành folate ở gan, chất này sau đó được chuyển hóa thành dạng có hoạt tính trong tế bào dưới sự xúc tác của enzyme. Trong khi đó axit folinic trực tiếp tạo thành chất trung gian có hoạt tính, bỏ qua các bước chuyển hóa, cung cấp nhiều folate hơn ở mức liều thấp hơn. Axit folinic chuyển hóa thành dạng folate có hoạt tính một cách dễ dàng hơn do không cần sự tham gia của các enzyme (Hình 4) [29]. Việc bỏ qua các bước chuyển hóa có thể giảm nguy cơ axit folic không chuyển hóa được. Axit folic không được chuyển hóa kết hợp với tăng cường dinh dưỡng trong thức ăn có thể dẫn đến tích lũy axit folic trong một số trường hợp [30]. Trong khoảng 10% người mang gen đột biến MTHFR bị giảm khả năng chuyển hóa axit folic thành folate, việc sử dụng axit folinic có thể mang lại lợi ích hơn.


Hình 4: Sơ đồ chuyển hóa folate, canxi folinate chuyển hóa trực tiếp thành 5-methyl tetrahydrofolate, dạng có hoạt tính sinh học của folate, bỏ qua các bước chuyển hóa chính.
Bằng chứng
Từ những năm 1950, axit folinic đã được sử dụng bổ sung thêm ngoài chế độ ăn theo cơ chế tương tự như axit folic. Gần đây, hiệu quả lâm sàng của axit folinic đã được chứng minh dưới dạng thuốc độc quyền leucovorin, được sử dụng như một thuốc hỗ trợ trong điều trị ung thư liên quan đến các hóa trị liệu 5-fluorouracil và methotrexate [31]. Cả hai thuốc này đều ức chế tổng hợp ADN để tiêu diệt tế bào ung thư bằng cách phong tỏa các enzyme tổng hợp pyrimidin trong
chuyển hóa folate. Do vậy, bổ sung axit folinic từ bên ngoài không ảnh hưởng đến các tế bào bình thường do bỏ qua sự phong tỏa này. Điều này đặc biệt quan trọng để bảo vệ tủy xương, ngăn ngừa cái chết hàng loạt của các tế bào hồng cầu, tiền thân tạo máu trong quá trình điều trị. Bệnh nhân đang trong quá trình điều trị thường bị giảm sản xuất hồng cầu, do đó cần tăng cường sử dụng sắt để duy trì nồng độ hemoglobin [32]. Mặc dù các hướng điều trị này yêu cầu axit folinic liều cao (10-20 mg), tuy nhiên vẫn chứng minh được hiệu quả lâm sàng trong điều hòa cân bằng sắt ở các tình trạng bệnh lý. Axit folinic cũng đã được chứng mình hiệu quả lâm sàng trong các tình trạng bệnh lý khác như thiếu máu đơn lẻ. Trước đây, axit folinic đã được sử dụng thành công để điều trị thiếu máu nguyên hồng cầu khổng lồ [33] và thiếu máu ác tính (thiếu vitamin B12) [34]. Liều 370 mcg axit folinic/ngày kết hợp với 80 mg phức sắt chelate/ngày hiệu quả hơn việc bổ sung đơn độc sắt (không kết hợp với folate) cho bệnh thiếu máu do thiếu sắt (IDA) khi mang thai [35]. Cả hai cách điều trị đều làm tăng nồng độ hemoglobin nhưng kết quả rõ rệt hơn khi bổ sung sắt kết hợp với axit folic ở những phụ nữ có nồng độ hemoglobin thấp hơn (Hình 5).


Hình 5: Sự thay đổi nồng độ hemoglobin theo thời gian ở phụ nữ mang thai bị thiếu máu do thiếu sắt. Trong khoảng tứ phân vị thấp nhất, bổ sung sắt +370 mcg folate/ngày cho thấy sự hồi phục rõ rệt hơn so với chỉ sử dụng đơn độc sắt (*P < 0.01) [35].


Axit ascorbic (Vitamin C)


Axit ascorbic là một vitamin quan trọng, tan trong nước, hoạt động như một đồng tố của enzyme trong việc tổng hợp L-cartinine và các catecholamine. Vì cơ thể người không thể tự tạo ra vitamin C nên việc cung cấp từ chế độ ăn là bắt buộc. Trong khoang ruột và hệ thống tuần hoàn, ascorbate còn là một chất chống oxy hóa tiềm năng, có đặc tính kháng vi khuẩn và kháng viêm, cũng như hỗ trợ hấp thu sắt.
Cơ chế tác dụng
Vai trò của axit ascorbic trong cân bằng nội môi sắt thường liên quan đến khả năng tăng cường hấp thu sắt ở ruột, và giảm stress oxy hóa. Vitamin C phản ứng với Fe3+ để tạo thành dạng sắt hấp thu trong cơ thể Fe2+, sau đó Fe2+ được vận chuyển tích cực qua màng tế bào ruột [36]. Các nghiên cứu trong phòng thí nghiệm (in vitro) sử dụng các tế bào ruột đã cho thấy sự vận chuyển sắt phụ thuộc vào ascorbate có thể diễn ra ở cả mặt đỉnh [37] và mặt đáy tế bào [38] thông qua sự điều hòa lên hoặc xuống của các kênh vận chuyển. Do vậy, sự vận chuyển được điều hòa bởi cả quá trình hấp thu qua màng tế bào và vận chuyển vào máu. Ascorbate cũng điều hòa sản xuất hepcidin and các thụ thể của EPO trong các tế bào gan được nuôi cấy [39], từ đó ảnh hưởng lớn đến nồng độ sắt trong cơ thể. Trong các tình trạng bị stress như thiếu oxy ở mô, viêm mạn tính hay thiếu dinh dưỡng, ascorbate đóng vai trò như một chất chống oxy hóa mang lại các lợi ích chuyển hóa.
Bằng chứng
Các bằng chứng khoa học cho thấy ascorbate có hiệu quả trong việc khôi phục cân bằng sắt, nhưng cũng mang lại các lợi ích về mặt chuyển hóa do có đặc tính chống oxy hóa và kháng viêm. Chỉ sử dụng 1000 mg axit ascorbic/ngày trong vòng 2 tháng thể hiện khả năng điều chỉnh rõ rệt IDA trên các đối tượng nghiên cứu [40]. Nghiên cứu này cũng cho thấy, sau khi điều trị bằng axit ascorbic, nồng độ sắt, hemoglobin và ferritin máu tăng đáng kể (Hình 6). Trong một nghiên cứu so sánh khác, sử dụng kết hợp 50 mg sắt và 500 mg ascorbate ở nữ giới khỏe mạnh bị thiếu hụt hồng cầu tạm thời sau khi hiến máu, sự hồi phục hemoglobin được cải thiện hơn [41]. Một nghiên cứu lâm sàng khác cho thấy ascorbate và sắt có hiệu quả tốt trong việc cải thiện sự bão hòa ferritin và nồng độ hepcidin ở mức liều thấp hơn (~30 mg), tuy nhiên ở phụ nữ bị thừa cân và béo phì, sự cải thiện này không rõ rệt [42]. Kết quả này có thể do sự rối loạn chuyển hóa và viêm có thể ảnh hưởng đến tác dụng chống oxy hóa của ascorbate. Liều tương tự sắt/ascorbate dùng hàng ngày ở phụ nữ trẻ làm giảm đáng kể các tác nhân sinh học gây nên stress oxy hóa và giảm tình trạng thiếu sắt không thiếu máu [43]. Một nghiên cứu sử dụng liều 60 hoặc 260 mg ascorbate, cùng với 14 mg sắt/ngày làm tăng sự bão hòa transferrin và nồng độ vitamin E trong máu, làm giảm sự oxy hóa lipid và giảm hoạt hóa tiểu cầu so với trước khi điều trị [44], sự khác biệt xuất hiện sớm hơn ở mức liều ascorbate cao hơn.


Hình 6: Các thông số máu trước và sau khi bổ sung 1000 mg axit ascorbic đường uống, thể hiện sử cải thiện IDA (*P < 0.01).


Các vitamin B (Vitamin B1, B2, B6, B12)
Cũng như sắt, các vitamin nhóm B có nhiều trong thịt đỏ và các nguồn protein khác. Vì vậy, những người ăn chay thường bị thiếu các vitamin B, và do đó dễ bị thiếu sắt.
Cơ chế tác dụng
Các vitamin nhóm B trong IronUp đóng vai trò quan trọng trong chuyển hóa sắt. Vitamin B6 (pyridoxine) và B12 (cyanocobalamin) là các đồng tố quan trọng trong quá trình chuyển hóa folate, do đó hỗ trợ cho cơ chế tác dụng của axit folic được miêu tả ở trên. Vitamin B12 chỉ được cung cấp thông qua chế độ ăn, sự thiếu hụt nghiêm trọng vitamin B12 có thể gây ra thiếu máu ác tính, đặc trưng bởi sự giảm nồng độ hồng cầu do giảm khả năng tạo hồng cầu. Vitamin B1 (thiamine) và B2 (riboflavin) là tiền chất của các đồng tố liên kết với pyruvate dehydrogenase (PDH) trong ty thể. Đây là enzyme quan trọng xúc tác cho bước đầu tiên trong quá trình chuyển hóa carbohydrate thành ATP. Trong chuyển hóa sắt, PDH quan trọng trong việc cung cấp năng lượng để tổng hợp hemoglobin và hỗ trợ tổng hợp các protein nói chung trong quá trình tạo máu.
Bằng chứng
WHO khuyến cáo nên bổ sung đa dạng các vi chất dinh dưỡng (MMN) ở các nhóm nguy cơ như phụ nữ mang thai, đặc biệt ở các nước đang phát triển – nơi chế độ ăn thường thiếu chất dinh dưỡng. Các vitamin B kể trên thường được bổ sung với nhiều mục đích khác nhau [45]. Một nghiên cứu so sánh gần đây ở Trung Quốc được tiến hành trên phụ nữ mang thai bị thiếu máu nhẹ, được bổ sung 500 µg folate/ngày và 30 mg sắt/ngày, cùng với hoặc không MMNs (kể cả các vitamin B kể trên) [46]. Sự kết hợp thêm với các MMN cải thiện nhẹ nồng độ ferritin và sắt so với việc sử dụng folate/sắt và cải thiện nhiều hơn so với việc chỉ sử dụng folate, mặc dù nồng độ
hemoglobin không thay đổi. Các kết quả tương tự cũng được đưa ra trong một thử nghiệm quy mô lớn hơn trên hơn 6000 phụ nữ mang  thai Trung Quốc [47]. Trong các nhóm: (a) bổ sung đơn độc 400 µg folate, (b) bổ sung 400 µg folate/40 mg sắt fumarat, hoặc (c) bổ sung UNICEF/WHO/UNU MMN, chế độ dinh dưỡng ở nhóm (b) và (c) làm giảm đáng kể tần suất thiếu máu ở người mẹ trong giai đoạn sau của thai kỳ so với chế độ dinh dưỡng ở nhóm (a), không có sự khác biệt nào về bệnh tật ở thai nhi hoặc thai chết lưu trong suốt quá trình điều trị. Như đã nói ở trên về vấn đề bổ sung folate sớm, phân tích tổng hợp ở các thử nghiệm tương tự cho thấy việc sử dụng kết hợp MMN với sắt/folate cho tình trạng thiếu máu liên quan tới mang thai cũng được khuyến khích [21].

TÓM TẮT
IronUp không chỉ cung cấp dạng sắt độc đáo, có độ hấp thu cao hơn, mà còn kết hợp thêm các vitamin đóng vai trò quan trọng trong hấp thu và chuyển hóa sắt. Mỗi thành phần trong IronUp
đều được chứng minh hiệu quả lâm sàng trong việc làm giảm các triệu chứng liên quan đến cân bằng sắt/máu. Tổng quan, công thức được nghiên cứu và bào chế để sử dụng và dung nạp sắt một cách tối ưu.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Pantopoulos, K., TfR2 links iron metabolism and erythropoiesis. Blood, 2015. 125(7): p. 1055 6.
2. Ashmead, H.D., The absorption and metabolism of iron amino acid chelate. Arch Latinoam Nutr, 2001. 51(1 Suppl 1): p. 13-21.
3. Low, M.S., et al., Daily iron supplementation for improving anaemia, iron status and health in menstruating women. Cochrane Database Syst Rev, 2016. 4: p. CD009747.
4. Pena-Rosas, J.P., et al., Daily oral iron supplementation during pregnancy. Cochrane Database Syst Rev, 2012. 12: p. CD004736.
5. Qian, C., et al., The Efcacy and Safety of Iron Supplementation in Patients With Heart Failure and Iron Defciency: A Systematic Review and Meta-analysis. Can J Cardiol, 2016. 32(2): p. 151 9.
6. Moretti, D., et al., Oral iron supplements increase hepcidin and decrease iron absorption from daily or twice-daily doses in iron-depleted young women. Blood, 2015. 126(17): p. 1981-9.
7. Layrisse, M., et al., Iron bioavailability in humans from breakfasts enriched with iron bis glycine chelate, phytates and polyphenols. J Nutr, 2000. 130(9): p. 2195-9.
8. Garcia-Casal, M.N. and M. Layrisse, The eect of change in pH on the solubility of iron bisglycinate chelate and other iron compounds. Arch Latinoam Nutr, 2001. 51(1 Suppl 1): p. 35 6.
9. Szarfarc, S.C., et al., Relative eectiveness of iron bisglycinate chelate (Ferrochel) and ferrous sulfate in the control of iron defciency in pregnant women. Arch Latinoam Nutr, 2001. 51(1 Suppl 1): p. 42-7.
10. Milman, N., et al., Ferrous bisglycinate 25 mg iron is as eective as ferrous sulfate 50 mg iron in the prophylaxis of iron defciency and anemia during pregnancy in a randomized trial. J Perinat Med, 2014. 42(2): p. 197- 206.
11. Latham, M.C., et al., Efcacy trials of a micronutrient dietary supplement in schoolchildren and pregnant women in Tanzania. Food Nutr Bull, 2003. 24(4 Suppl): p. S120-8.
12. Pineda, O. and H.D. Ashmead, Eectiveness of treatment of iron-defciency anemia in infants and young children with ferrous bisglycinate chelate. Nutrition, 2001. 17(5): p. 381-4.
13. Pineda, O., et al., Eectiveness of iron amino acid chelate on the treatment of iron defciency anemia in adolescents. J Appl Nutr 1994. 46: p. 2-13.
14. Duque, X., et al., Eect of supplementation with ferrous sulfate or iron bisglycinate chelate on ferritin concentration in Mexican schoolchildren: a randomized controlled trial. Nutr J, 2014. 13: p. 71.
15. FDA. GRAS Notice 19: Ferrous bisglycinate chelate 1999; Available from: http://www.fda.gov/downloads/Food/IngredientsPackagingLabeling/ GRAS/NoticeInventory/ucm261608.pdf.
16. EFSA. Ferrous bisglycinate as a source of iron for use in the manufacturing of foods and in food supplements. 2006; Available from: http://www.efsa. europa.eu/sites/default/fles/scientifc_output/fles/main_documents/299.pdf.
17. Koury, M.J. and P. Ponka, New insights into erythropoiesis: the roles of folate, vitamin B12, and iron. Annu Rev Nutr, 2004. 24: p. 105-31.
18. board, B.e., Folic acid and combined iron and folic acid preparations. Br Med J, 1968. 4(5623): p. 102-3.
19. Horn, E., Iron and folate supplements during pregnancy: supplementing everyone treats those at risk and is cost eective. BMJ, 1988. 297(6659): p. 1325, 1327.
20. WHO, Guideline: Daily Iron and Folic Acid Supplementation in Pregnant Women2012, Geneva: World Health Organization.
21. Haider, B.A. and Z.A. Bhutta, Multiple-micronutrient supplementation for women during pregnancy. Cochrane Database Syst Rev, 2015. 11: p. CD004905.
22. Lumley, J., et al., Periconceptional supplementation with folate and or multivitamins for preventing neural tube defects. Cochrane Database Syst Rev, 2000(2): p. CD001056.
23. Kirke, P.N., et al., Maternal plasma folate and vitamin B12 are independent risk factors for neural tube defects. Q J Med, 1993. 86(11): p. 703-8.
24. WHO. VITAMIN AND MINERAL REQUIREMENTS IN HUMAN NUTRITION. Section 15 – folic acid 2016; 2nd; Available from: http://www.who. int/nutrition/publications/micronutrients/9241546123/en/.
25. Title, L.M., et al., Eect of folic acid and antioxidant vitamins on endothelial dysfunction in patients with coronary artery disease. J Am Coll Cardiol, 2000. 36(3): p. 758-65.
26. Woo, K.S., et al., Long-term improvement in homocysteine levels and arterial endothelial function after 1-year folic acid supplementation. Am J Med, 2002. 112(7): p. 535-9.
27. Liu, Y., et al., The eect of homocysteine-lowering therapy with folic acid on flow-mediated vasodilation in patients with coronary artery disease: a meta-analysis of randomized controlled trials. Atherosclerosis, 2014. 235(1): p. 31-5.
28. Mierzecki, A., et al., Association between low-dose folic acid supplementation and blood lipids concentrations in male and female subjects with atherosclerosis risk factors. Med Sci Monit, 2013. 19: p. 733-9.
29. Scaglione, F. and G. Panzavolta, Folate, folic acid and 5-methyltetrahydrofolate are not the same thing. Xenobiotica, 2014. 44(5): p. 480-8.
30. Kelly, P., et al., Unmetabolized folic acid in serum: acute studies in subjects consuming fortifed food and supplements. Am J Clin Nutr, 1997. 65(6): p. 1790-5.
31. Kaizer, L., S. Fine, and C. Erlichman, Sequential methotrexate-fluorouracil: the role of leucovorin in improving tumor response. J Clin Oncol, 1986. 4(8): p. 1280-1.
32. Ochiai, T., et al., Mechanism underlying the transient increase of serum iron during FOLFOX/FOLFIRI therapy. Mol Clin Oncol, 2014. 2(6): p. 968- 972.
33. Whitehead, V.M., et al., Response to folinic acid in B 12 -defciency anaemia. Lancet, 1971. 2(7723): p. 552-4.
34. Davidson, L.S. and R.H. Girdwood, Treatment of the megaloblastic anaemias with citrovorum factor. Lancet, 1951. 2(6696): p. 1193-5.
35. Juarez-Vazquez, J., E. Bonizzoni, and A. Scotti, Iron plus folate is more eective than iron alone in the treatment of iron defciency anaemia in pregnancy: a randomised, double blind clinical trial. BJOG, 2002. 109(9): p. 1009-14.
36. Lane, D.J. and D.R. Richardson, The active role of vitamin C in mammalian iron metabolism: much more than just enhanced iron absorption! Free Radic Biol Med, 2014. 75: p. 69-83.
37. Han, O., et al., Reduction of Fe(III) is required for uptake of nonheme iron by Caco-2 cells. J Nutr, 1995. 125(5): p. 1291-9.
38. Scheers, N. and A.S. Sandberg, Iron transport through ferroportin is induced by intracellular ascorbate and involves IRP2 and HIF2alpha. Nutrients, 2014. 6(1): p. 249-60.
39. Chiu, P.F., S.Y. Ko, and C.C. Chang, Vitamin C aects the expression of hepcidin and erythropoietin receptor in HepG2 cells. J Ren Nutr, 2012. 22(3): p. 373-6.
40. Sharma, D.C. and R. Mathur, Correction of anemia and iron defciency in vegetarians by administration of ascorbic acid. Indian J Physiol Pharmacol, 1995. 39(4): p. 403-6.
41. Chiamchanya, N., Rapid recovery time of hemoglobin level in female regular blood donors with ferrous fumarate and high dose of ascorbic acid supplement. J Med Assoc Thai, 2013. 96(2): p. 165-71.
42. Cepeda-Lopez, A.C., et al., In overweight and obese women, dietary iron absorption is reduced and the enhancement of iron absorption by ascorbic acid is one-half that in normal-weight women. Am J Clin Nutr, 2015. 102(6): p. 1389-97.
43. Khoshfetrat, M.R., et al., The eect of iron-vitamin C co-supplementation on biomarkers of oxidative stress in iron-defcient female youth. Biol Trace Elem Res, 2013. 153(1-3): p. 171-7.
44. Yang, M., et al., Do iron and vitamin C co-supplementation influence platelet function or LDL oxidizability in healthy volunteers? Eur J Clin Nutr, 1999. 53(5): p. 367-74.
45. WHO. VITAMIN AND MINERAL REQUIREMENTS IN HUMAN NUTRITION. Section 9 – Thiamine, riboflavin, niacin, vitamin B6, pantothenic acid and biotin 2016; Available from: http://www.who.int/nutrition/publications/micronutrients/9241546123/en/.
46. Mei, Z., et al., Iron-containing micronutrient supplementation of Chinese women with no or mild anemia during pregnancy improved iron status but did not aect perinatal anemia. J Nutr, 2014. 144(6): p. 943-8.
47. Liu, J.M., et al., Micronutrient supplementation and pregnancy outcomes: double-blind randomized controlled trial in China. JAMA Intern Med, 2013. 173(4): p. 276-82.